1. Head
    1. Link

      Liên Kết

       

       

      Từ Điển Anh Việt

       

          

       

       


      Tac Pham & Tac Gia

      Tác Phẩm

       

       

      Tác Giả

       

       
       

      Tạp Chí

       

      PHONG HÓA (13 số đầu)
       (Đại học Khoa học Xã hội)
      PHONG HÓA (các số sau)
       (Đại học Hoa Sen)
      TỰ LỰC VĂN ĐOÀN, tác phẩm
       (Viện Việt Học)
      VĂN HỌC
      Tạp chí Văn Học
      Thư viện Người Việt:
      NAM PHONG
      TRI TÂN
      THANH NGHỊ
      NGÀY NAY
      VĂN HOÁ NGÀY NAY
      TIỂU THUYẾT THỨ BẢY
      TẬP SAN SỬ ĐỊA
      THẾ KỶ 21
      DÒNG VIỆT
      Trọn bộ DÒNG VIỆT (1993-2009)
      VĂN (Xuân Canh Thìn) (vanmagazine)
       

       

    2. Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Trần Đào" (Trần Từ Mai)

      23-5-2017 | VĂN HỌC

      Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Trần Đào"

       TRẦN TỪ MAI

       

      Bài thơ này sau được in lại trong tập Chúng ta mất hết chỉ còn nhau
      (Paris : Rừng Trúc, 1974).

      Để giới thiệu 12 bài thơ “Đọc lại người xưa” thi sĩ Vũ Hoàng Chương làm trong năm 1976, trong thời gian bị giam ở khám Chí Hòa và ít ngày sau khi từ Chí Hòa về, người viết những dòng này đã trình bày một cách khái quát trên tạp chí điện tử Diễn Đàn Thế Kỷ cuối tháng 10-2016:

      http://www.diendantheky.net/2016/10/giao-tinh-vong-nien-giua-vu-hoang.html

      Sau đó, chúng tôi có dịp nói rõ thêm trên trang blog cá nhân đầu tháng 11-2016:

      http://tranhuybich.blogspot.com/2016/11/gioi-thieu-12-bai-tho-oc-lai-nguoi-xua.html#more

      Nhật báo Người Việt ở California tóm tắt lại chuyện ấy giữa tháng 12-2016:

      http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/quanvan-gioi-thieu-12-bai-tho-doc-lai-nguoi-xua-cua-thi-si-vu-hoang-chuong/

      Năm 2012, khi in 12 bài thơ ấy ra ở trong nước, nữ sĩ Hoàng Hương Trang nói rõ: những bài ấy đều có “ngụ ý kín đáo của thi sĩ Vũ Hoàng Chương” nhưng “phải đọc kỹ mới nhận thấy.”


      Chúng tôi đã thử phân tích ý tưởng của Vũ Hoàng Chương trong bài thơ ông làm nhân cảm hứng từ bài thơ của viên tướng Trung Hoa Bành Ngọc Lân đời Thanh, phổ biến trên Diễn Đàn Thế Kỷ giữa tháng 1-2013:

      http://www.diendantheky.net/2013/01/tran-huy-bich-mot-bai-tho-ngu-y-that.html

      và trình bày lại một cách chi tiết hơn trên trang blog cá nhân giữa tháng 7-2016:

      http://tranhuybich.blogspot.com/2016/07/mot-bai-tho-ngu-y-that-ham-suc-cua-thi.html#more

      Hôm nay xin được viết tiếp để thử tìm xem thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã muốn nói gì với chúng ta trong bài thơ ông làm nhân cảm hứng từ bài thơ của Trần Đào đời Đường.


      Trước hết, xin chép lại nguyên văn bài thơ của Vũ Hoàng Chương cùng hai câu thơ của Trần Đào, những câu đã khơi nguồn cảm hứng cho ông:


      Đọc lại người xưa: Trần Đào

         Khả liên Vô Định hà biên cốt

         Do thị xuân khuê mộng lý nhân

           Trần Đào

      Chàng về trong mộng đêm đêm

      Trẻ như măng, thịt da mềm như tơ

      Ngày qua nàng vẫn trông chờ

      Tháng, rồi năm, vẫn giấc mơ liền cành

      Biết đâu chàng đã trở thành

      Xương tàn một nắm vô danh bên trời

      Bờ sông bãi cát bồi hồi

      Đã khô rồi, đã trắng rồi, biết đâu

      Chữ đồng tạc lấy cho sâu

      Ai hay lẻ một nét sầu đến xương

      Là Nam Bắc, là âm dương

      Lệ hay máu rỏ con đường nào đây.

      Vũ Hoàng Chương

      (1976)

      Ý nghĩa hai câu thơ của Trần Đào:


      Đây là hai câu thơ đa số người Việt Nam đã biết, một phần nhờ hai câu của Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

      Ngẫm từ dấy việc binh đao

      Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu.


      Đó là hai câu cuối trong bài “Lũng Tây hành” của Trần Đào, một thi nhân cuối đời Đường. Toàn thể bài thơ như sau:


      隴西行

      誓掃匈奴不顧身

      五千貂錦喪胡塵

      可憐無定河邊骨

      猶是春閨夢裡人


      LŨNG TÂY HÀNH


      Thệ tảo Hung nô bất cố thân

      Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần

      Khả liên Vô Định hà biên cốt

      Do thị xuân khuê mộng lý nhân.


      Diễn ra văn xuôi, những câu ấy có nghĩa như sau:


      Thề quét sạch giặc Hung Nô không đoái đến thân mình

      Năm ngàn binh sĩ mặc áo bằng da con điêu chôn xác trong bụi đất Hồ

      Đáng thương cho đống xương bên bờ sông Vô Định

      Vẫn còn là người trong giấc mơ của kẻ ở phòng khuê.


      Đây là một bài thơ viết về chiến tranh với ý xót thương. Người ra đi chết đã từ lâu, chỉ còn là một đống xương bên bờ một dòng sông xa xăm nhưng những người vợ, người yêu đang chờ đợi ở nhà vẫn không được biết, đêm đêm vẫn ôm ấp bao mộng đẹp với hình bóng “chàng.”


      “Lũng Tây hành” có thể dịch là “khúc ngâm ở đất Lũng Tây,” một địa danh nay ở tỉnh Cam Túc, phía Tây Bắc Trung Hoa. “Vô Định hà” là một con sông chảy qua tỉnh Thiểm Tây, cũng ở Tây Bắc Trung Hoa. Con sông này là nơi bao chiến sĩ Trung Hoa đã bỏ mình khi đi đánh Hung Nô.


      Bài thơ có thể tạm dịch như sau:

      Một nguyện quên thân quét rợ Hồ

      Năm ngàn chôn xác đất Hung nô.

      Thương ơi, xương trắng bờ Vô Định

      Nay vẫn phòng ai giữa giấc mơ.


      hay:


      Quét Hung nô, mạng chẳng cần

      Năm ngàn anh tuấn vùi thân đất Hồ.

      Sông Vô Định, đống xương khô

      Đêm đêm vẫn dệt giấc mơ khuê phòng.

      Bài “Đọc lại người xưa: Trần Đào” của Vũ Hoàng Chương đã được cảm hứng từ hai câu cuối của bài thơ này. Chúng ta cùng thử tìm ý tưởng trong bài thơ của Vũ Hoàng Chương.


      Mười câu đầu không có gì đặc sắc. Tác giả chỉ khai triển ý của Trần Đào: Đêm đêm chàng vẫn trở về trong giấc mơ, trẻ trung, đầy cảm xúc. Hàng ngày, hàng tháng, rồi hàng năm, nàng vẫn chờ đợi, đâu biết rằng chàng đã trở thành một nắm xương khô trắng ở bờ sông bãi cát bên trời. Vũ Hoàng Chương bày tỏ niềm cảm thương đối với nàng: những muốn “trăm năm tạc một chữ đồng,” ngờ đâu hiện nay đang “lẻ một nét sầu” đến tận xương. Ý tưởng then chốt của nhà thơ họ Vũ nằm trong hai câu kết:


      Là Nam Bắc, là âm dương

      Lệ hay máu rỏ con đường nào đây.


      Con đường nào đã gây nên bao nhiêu thảm cảnh, máu và nước mắt như thế?


      Con đường ấy có ý niệm “Nam Bắc,” nhưng cũng có ý niệm “âm dương” (sống và chết). Chúng ta bàng hoàng nhận ra: Vũ Hoàng Chương muốn nói, “Con đường khiến bao nhiêu máu và nước mắt chảy xuống là con đường gắn liền với khẩu hiệu ‘Sinh Bắc, tử Nam’ (sinh ra ở đất Bắc, chết ở miền Nam). Đó là con đường lôi cuốn và thúc đẩy bao nhiêu thanh niên miền Bắc vượt gian khổ vào đánh miền Nam,say sưa với khẩu hiệu “tuy sinh ở đất Bắc, sẵn sàng chết ở miền Nam. ”Con đường ấy cũng làm bao nhiêu thanh niên miền Nam chết oan (vì không muốn bị xâm chiếm). Đó là một con đường mòn sau trở thành xa lộ, mang tên nhân vật lãnh đạo “thần tượng” của miền Bắc: “Đường mòn Hồ Chí Minh.”


      Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, Vũ Hoàng Chương cũng nhiều lần bày tỏ nỗi đau xót trước cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam. Sau biến cố Mậu Thân 1968, bàng hoàng trước những thương vong khủng khiếp trong dân chúng cũng như trong quân đội cả hai phía, ông đã viết trong một bài lục bát lấy nhan đề “Chơi xuân”:

      Bao nhiêu chàng trai ra đi

      Bấy nhiêu cô gái đến thì hỏi xuân

      Hết quan, tàn mấy miền dân

      Cớ sao còn chửa kéo quân vơ về?

      Trong trò chơi “ô quan” của trẻ con miền Bắc thời trước, hai ô lớn hình bán nguyệt ở hai đầu bàn ô được gọi là hai nhà “quan.” Trong khi chơi, nếu cả hai ô ấy đều không còn viên sỏi nào, sẽ gọi là “hết quan.” Khi “quan” đã hết, người chơi ngồi ở hai phía bàn ô được quyền kéo hết các viên sỏi trong những ô phía gần mình về, ai được nhiều sỏi hơn là thắng: “Hết quan, tàn dân, thu quân kéo về.” Ông mượn luật chơi ô quan của trẻ con thời trước để hỏi cả hai phía tham chiến: “Nay đã hết quan, tàn hại bao nhiêu miền dân chúng rồi, sao vẫn chưa chịu ‘thu quân kéo về’?”


      Ông phác họa cảnh một cô gái mới lớn, chưa biết yêu và còn ham chơi, ngồi một mình chơi ô quan. Vì không người cùng chơi, cô đã kiêm cả hai phía, tự mình đấu với mình một cách hăng say:

      Riêng ai tóc mới buông thề

      Vần thơ yêu bỏ lạc đề sau lưng

      Trò chơi sỏi đá tưng bừng

      Đàn năm ngón ngọc qua từng cửa ô.

      Vì kiêm cả hai phía nên cô vừa thua vừa được. Phía “hình” thua, phía “bóng” được. Tuy có một phía “được” nhưng cô cũng mệt nhoài. Ông không nói cô gái ham chơi, hiếu thắng ấy là ai, nhưng cho biết trò chơi này có hai thủ đô là “Nghé” (Bến Nghé = Sài Gòn) và “Rồng” (Thăng Long = Hà Nội):


      Nghé kêu, Rồng quẫy hai đô

      Sỏi khan rồi, đá cũng khô tâm tình.


      Vậy cô gái thơ dại ấy chính là cô gái Việt Nam. Rõ ràng là một bài thơ chỉ trích cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhưng Vũ Hoàng Chương không buộc tội riêng phía nào. Ông chỉ ngỏ ý trách: Sao cả hai phía cùng hăng say đến như thế?:


      Sỏi khan rồi, đá cũng khô tâm tình.


      Khi chuyện “được” chỉ là cái bóng (hư danh), nhưng chuyện “thua” chính là hình hài (thân thể), ông hỏi xem cô bé ham chơi, hiếu thắng ấy “có thấy vui hay không”:


      Được thua mình chỉ với mình

      Hình thua, bóng được, cô mình buồn, vui?


      Bài thơ này được in trong tập Tân Thi (Sài Gòn : Nam Chi Tùng Thư, 1970), là bài thơ thứ 4 trong tập thơ.


      Đầu năm Nhâm Tý 1972, ông cho đăng trên báo Xuân bài thơ khai bút như sau:

      Trường chinh mộng hậu tức phong yên

      Thiên lý long câu, vạn lý thuyền

      Hốt ngộ tiền thân: nhất yển thử

      Ẩm hà mãn phúc, túy xuân thiên.


      (Sau giấc mộng trường chinh, gió và khói đã tắt

      Một con “thiên lý long câu” [ngựa hay, mỗi ngày đi ngàn dặm] và một chiếc “vạn lý thuyền” [thuyền tốt, có thể vượt vạn dặm]

      Chợt nhận ra tiền thân của mình: vốn là một con chuột

      Uống nước sông đầy một bụng [ngụ ý uống thỏa thích], say với trời xuân).

      Vũ Hoàng Chương muốn nói: Dù “thiên lý long câu” hay “vạn lý thuyền” thì cũng chỉ là công cụ cho người ta ngồi lên và sử dụng. Ham danh tiếng hão (chẳng hạn “đạo quân tiên phong của thế giới vô sản,” hay “tiền đồn của thế giới tự do” ...) chỉ khiến người ta trở nên dại dột, tự nguyện làm phương tiện cho kẻ khác cưỡi lên, lao vào một cuộc chiến mà nguyên nhân chính là quyền lợi của kẻ khác. Hậu quả là thân thể đầy thương tích. Trong năm Nhâm Tý (năm chuột), ông ước mong khi khói lửa đã tắt, cả “thiên lý long câu” và “vạn lý thuyền” sẽ cùng nhận ra tiền thân của mình, vốn chỉ là một con chuột (chắc ông muốn nói tới chuột đồng) trong hạnh phúc đơn giản, uống nước sông thỏa thích, vui say với trời xuân. Bản tiếng Việt của ông như sau:

      Giấc mộng trường chinh lửa ngút mây

      Tỉnh ra, ngựa đấy với thuyền đây

      nhìn nhau: Chuột nhỏ tung tăng dạo

      vừa uống sông xuân một bụng đầy.

      Tóm lại, sinh làm dân Việt sống qua những năm 1945-1975, chứng kiến bao thảm cảnh của cuộc chiến nồi da nấu thịt, nguồn cảm hứng của Vũ Hoàng Chương trong bài thơ này không khác nguồn cảm hứng của Giản Chi trong những câu:


      Giật mình đợt súng xa đưa

      Niềm quê hương chẳng gió mưa cũng buồn.


      Hay của Đông Hồ trong những câu:


      Giao thừa đâu nữa trầm phun xạ?

      Nguyên đán về đây gió vẫn tanh!


      Tóm lại, đó là nỗi buồn vì chiến tranh một cách “chung chung.” Tuy ý tưởng và ngôn từ của Vũ Hoàng Chương có phần mạnh hơn của Giản Chi và Đông Hồ, nhưng trước ngày 30-4-1975, Vũ Hoàng Chương không nêu riêng một phía nào để chỉ trích.


      Điều ấy thay đổi hẳn sau ngày 30-4-1975. Trong bài “Đọc lại người xưa: Bành Ngọc Lân,” chúng ta thấy Vũ Hoàng Chương đã nói rõ: dân chúng miền Nam dửng dưng, không “hồ hởi” chút nào trước những huênh hoang “giải phóng” miền Nam của nhà cầm quyền miền Bắc. Trong bài “Đọc lại người xưa: Trần Đào” này, ông nói thêm: bao nhiêu đau thương cuộc chiến tranh gây ra là do chủ trương quyết chiếm miền Nam của những người cầm quyền miền Bắc, do khẩu hiệu “sinh Bắc tử Nam” họ đưa ra để dụ dỗ và thúc đẩy thanh niên miền Bắc lên đường. Con đường khiến máu và nước mắt đổ xuống là con đường vừa “Nam Bắc” nhưng cũng vừa “âm dương,” đường mòn Hồ Chí Minh. Nói cách khác, Vũ Hoàng Chương quy thẳng trách nhiệm cuộc chiến huynh đệ tương tàn trước năm 1975 lên những người cầm đầu chế độ cộng sản ở Hà Nội.


      Tuy “đọc kỹ mới nhận thấy” nhưng khi thấy thì ý tưởng hiện ra rất rõ. Có lẽ vì thế sau khi từ nhà giam Chí Hòa về cuối tháng 8-1976, thi sĩ Vũ Hoàng Chương không dám để bài thơ này(cùng 11 bài thơ khác cùng loại) ở nhà. Ông bà tin chắc nhà sẽ bị khám và thơ sẽ bị tịch thu hay thiêu hủy. Vì thế khi nhà thơ Hoàng Hương Trang đến thăm, ông bà Vũ Hoàng Chương đã giao cho Hoàng Hương Trang đem về cất giữ. Tuy những bài ấy được gửi ra quốc ngoại cho người viết những dòng này và nhà thơ Cao Tiêu năm 2007, nhà thơ Hoàng Hương Trang đợi thêm 5 năm nữa, đến 2012 mới cho in ra ở trong nước. Chúng ta thành thật cám ơn nhà thơ Hoàng Hương Trang đã không quản nguy hiểm tới bản thân, cố bảo vệ những thi phẩm mang ý nghĩa chứng nhân trong một giai đoạn lịch sử quan trọng khiến chúng không bị mai một.


      Trần Từ Mai


      Trần Từ Mai

      Nguồn: diendantheky.net



      Cung Tac Gia

      Cùng Tác Giả:

       

      - Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Bành Ngọc Lân Trần Từ Mai Nhận định

      - Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Trần Đào" Trần Từ Mai Nhận định

      - Một bài thơ xuân mang nhiều ý nghĩa của thi sĩ Đông Hồ Trần Từ Mai Nhận định

      - Nguyễn Trãi đã sáng tác "Loạn Hậu Đáo Côn Sơn Cảm Tác" vào thời điểm nào? Trần Từ Mai Thơ

      - Giới thiệu Bài Thơ "Trừ Tịch" của Đặng Đức Siêu Trần Từ Mai Giới thiệu

      - Khai Xuân Thạch Vấn Trần Từ Mai Tiểu luận

      - Trở lại bài thơ Khai Xuân Thạch vấn Trần Từ Mai Tiểu luận

    3. Bài viết về Vũ Hoàng Chương

       

      Bài viết về Vũ Hoàng Chương

       

      Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Bành Ngọc Lân" (Trần Từ Mai)

      Thử Tìm Hiểu Ý Tưởng Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương Trong Bài "Đọc Lại Người Xưa: Trần Đào" (Trần Từ Mai)

      Tiểu sử VŨ HOÀNG CHƯƠNG (Đặng Tiến)

      Giới Thiệu (Võ Phiến)

      Những nhân vật nữ trong thơ VHC (Viên Linh)

      Khai Xuân Thạch Vấn (Trần Từ Mai)

      Trở lai bài thơ "Khai Xuân Thạch Vấn" (Trần Từ Mai)

      VHC, Tiếng thở dài của phương đông trầm mặc

       (Tạ Tỵ, Talawas)

       

      Tác phẩm

       

      Trang thơ Vũ Hoàng Chương

      Ta đã làm chi đời ta (Bút ký, Talawas)

      Tác phẩm trên mạng (Đặc Trưng)

       

       

       

      Bài Viết về Văn Học
       

      Bài viết về Văn Học

       

      - Với nhà văn Mặc Đỗ, ta biết thêm vài điều qua cuốn sách mới nhất của ông (Trần Văn Nam)

      - Nhà Văn Lữ Quỳnh Viết Truyện Phản Chiến Ở Vị Trí Và Bối Cảnh Nào? (Trần Văn Nam)

      - Hương Trinh đã tan rồi! (Lê Hữu)

      - Vịn Vào Lục Bát Của Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Mấy Tháng Cuối Cùng Với Vũ Hoàng Chương

      (Mai Thảo)

      - Đọc quyển Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký với lời chú giải của Nguyễn Văn Sâm (Trần Văn Chánh)

      - Trương Vĩnh Ký, người giữ lửa cho tiếng nói Nam Kỳ (Nguyễn Văn Sâm)

      - Ngữ-Vựng Tiếng Việt của Giáo sư Trần Ngọc Ninh (Đàm Trung Pháp)

      - Phỏng vấn nhà văn Song An Hoàng Ngọc Phách

      (Lê Thanh)

      - Những Hồi Ức Buồn: Đọc Thơ Lữ Quỳnh (Khuất Đẩu)

      - Bên Ly Cà Phê, Ly Rượu... Thấp Thoáng Bóng Lữ Quỳnh (Nguyễn Lệ Uyên)

      - Nhà Thơ Hồ Đình Phương và Sự Nghiệp Âm Nhạc Hoàng Trọng (Du Tử Lê)

      - Dòng Thơ Chính Khí thời tiền chiến: Nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) (Viên Linh)

      - Thi Sĩ Đinh Hùng Người Làm Thơ Tình Kiệt Xuất

      (Huyền Viêm)

      - Tìm hiểu tác giả Nguyên Phong, con người ẩn danh đã dịch nhiều cuốn sách hay (Phan Lạc Tiếp)

        Giai Thoại Văn Học

      Giai Thoại Văn Học

       

      Phong Kiều Dạ Bạc (T. V. Phê)

      Hoa Đào Năm Ngoái (T. V. Phê)

      Minh Nguyệt Sơn Đầu Khiếu (Tâm Hoa)

      Quả Báo (T. V. Phê)

      Cao Ngọc Anh (Lãng Nhân)

      Đồng Khánh và Tự Đức (Lãng Nhân)

      Những Giai Thoại Về Bùi Tiên Sinh (T. V. Phê)

       

      Tác phẩm Văn Học

       

      Văn Thi Sĩ Tiền Chiến (Nguyễn Vỹ)

      Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam (Thanh Lãng): Quyển Thượng,  Quyển Hạ

      Phê Bình Văn Học Thế Hệ 1932 (Thanh Lãng)

      Văn Chương Chữ Nôm (Thanh Lãng)

      Việt Nam Văn Học Nghị Luận (Nguyễn Sỹ Tế)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ (Tạ Tỵ)

      Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay (Tạ Tỵ)

      Văn Học Miền Nam: Tổng Quan (Võ Phiến)

      Văn Học Miền Nam 1954-1975 (Huỳnh Ái Tông):

              Tập   I,  II,  III,  IV,  V,  VI

      Phê bình văn học thế kỷ XX (Thuỵ Khuê)

      Sách Xưa (Quán Ven Đường)

      Thơ Từ Cõi Nhiễu Nhương

        (Tập I, nhiều tác giả, Thư Ấn Quán)

      Văn Học Miền Nam

       

      Văn Học Miền Nam

       

      - Dẫn Lược Từng Chương Tiểu Thuyết Danh Tiếng của Thomas Hardy (Trần Văn Nam)

      - Một chuyến đi (Trăm lần vui. Vạn lần buồn) (Phạm Văn Nhàn)

      - Viết về Duyên (Đỗ Xuân Tê)

      - Hình như cây súng con lạ lắm (Trần Hoài Thư)

      - Đôi mắt La Ronda (Trần Hoài Thư)

      - Bằng Hữu, Thật Sống Đủ Ngay Đây (Phan Nhật Nam)

      - Gặp anh Đặng Tiến và đi thăm Trần Hoài Thư (Phạm Văn Nhàn)

      - Những Giải Thưởng Văn Chương Trên Nước Việt (Nguiễn Hữu Ngư)

      - Đứng Trước Thực Tại (Lý Hoàng Phong)

      - Tản Mạn Về Tính Nhân Bản Trong Thi Ca Miền Nam Thời Chiến (Trần Hoài Thư)

      - Nhận Định Về Thơ Hậu Chiến (Lê Huy Oanh)

      - Di sản văn chương miền Nam: Các tác phẩm về văn học mới sưu tập (Trần Hoài Thư)

      - Tổng Kết Cuộc Phỏng Vấn Về Quan Niệm Sáng Tác Của Các Nhà Văn (Nguyễn Ngu Í)

      - Cuộc Phỏng Vấn Văn Nghệ (Nguyễn Ngu Í)

      - Đi tìm nguồn cội (Nguyễn Xuân Hoàng)

      Nhìn Lại Một Số Tạp Chí Miền Nam (Nguyễn Văn Lục)

      Hướng về miền Nam Việt Nam (Nguyễn Văn Trung)

      Văn Học Miền Nam (Thụy Khuê)

      Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu?

       (Trùng Dương)

      Văn-Học Miền Nam qua một bộ “văn học sử” của Nguyễn Q. Thắng, trong nước (Nguyễn Vy Khanh)

      Hai mươi năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975 Nguyễn văn Lục

      Đọc lại Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến

       Đặng Tiến

      20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975  

       Nguyễn Văn Lục

      Văn học Sài Gòn đã đến với Hà Nội từ trước 1975 (Vương Trí Nhàn)

       

      Trong dòng cảm thức Văn Học Miền Nam phân định thi ca hải ngoại (Trần Văn Nam)

       

      Van Hoc

       

       

      Tác Giả

       

      Nguyễn Du (Dương Quảng Hàm)

        Từ Hải Đón Kiều (Lệ Ba ngâm)

        Tình Trong Như Đã Mặt Ngoài Còn E (Ái Vân ngâm)

        Thanh Minh Trong Tiết Tháng Ba (Thanh Ngoan, A. Vân ngâm)

      Nguyễn Bá Trác (Phạm Thế Ngũ)

        Hồ Trường (Trần Lãng Minh ngâm)

      Phạm Thái và Trương Quỳnh Như (Phạm Thế Ngũ)

      Dương Quảng Hàm (Viên Linh)

      Hồ Hữu Tường (Thụy Khuê, Thiện Hỷ, Nguyễn Ngu Í, ...)

      Vũ Hoàng Chương (Đặng Tiến, Võ Phiến, Tạ Tỵ, Viên Linh)

        Bài Ca Bình Bắc (Trần Lãng Minh ngâm)

      Đông Hồ (Hoài Thanh & Hoài Chân, Võ Phiến, Từ Mai)

      Nguyễn Hiến Lê (Võ Phiến, Bách Khoa)

      Tôi tìm lại Tự Lực Văn Đoàn (Martina Thucnhi Nguyễn)

      Triển lãm và Hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn

      Nhất Linh (Thụy Khuê, Lưu Văn Vịnh, T.V.Phê)

      Khái Hưng (Nguyễn T. Bách, Hoàng Trúc, Võ Doãn Nhẫn)

      Nhóm Sáng Tạo (Võ Phiến)

      Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo (Talawas)

      Ấn phẩm xám và những người viết trẻ (Nguyễn Vy Khanh)

      Khai Phá và các tạp chí khác thời chiến tranh ở miền Nam (Ngô Nguyên Nghiễm)

      Nhận định Văn học miền Nam thời chiến tranh

       (Viết về nhiều tác giả, Blog Trần Hoài Thư)

      Nhóm Ý Thức (Nguyên Minh, Trần Hoài Thư, ...)

      Những nhà thơ chết trẻ: Quách Thoại, Nguyễn Nho Sa Mạc, Tô Đình Sự, Nguyễn Nho Nhượn

      Tạp chí Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, ...)

      Nhân Văn Giai Phẩm: Thụy An

      Nguyễn Chí Thiện (Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Vinh)

      ,  Bình Nguyên Lộc,  Bùi Bảo Trúc,  Bùi Giáng,  Bùi Ngọc Tuấn,  Bùi Đăng,  Cái Trọng Ty,  Chu Trầm Nguyên Minh,  Du Tử Lê,  Dương Nghiễm Mậu,  Duy Liêm,  Hà Thúc Sinh,  Hà Thượng Nhân,  Hàn Mặc Tử,  Hồ Đình Phương,  

       
       

       

  2. © Hoc Xá 2002

    © Hoc Xá 2002 (T.V. Phê - phevtran@gmail.com)