7-1-2020 | VĂN HỌC

Xuân Thu Nhã Tập: Các Thành Viên

  NGUYỄN TẤN LONG

Đoàn Phú Tứ (nòng cốt)

Phạm Văn Hạnh (nòng cốt)

Nguyễn Xuân Sanh (nòng cốt)

Nguyễn Lương Ngọc (cộng tác)

Nguyễn Đỗ Cung (cộng tác)

Nguyễn Xuân Khoát (cộng tác)


1. ĐOÀN PHÚ TỨ



     Nhà thơ Đoàn Phú Tứ

Ông sinh ngày 10 tháng 9 năm 1910 tại Hà Nội. Học ở Hà Nội và có bằng tú tài Pháp.


Ông viết văn từ lúc còn học lớp nhất (1925). Văn phẩm đầu tiên là những bài từ khúc đăng trên báo Đông Pháp. Thỉnh thoảng viết giúp cho các báo Phong Hóa, Ngày Nay. Năm 1937, ông đứng chủ trương tờ Tinh Hoa. Chuyên viết kịch.


Những kịch phẩm được xuất bản và trình diễn sau đây: (1)


- Ghen, kịch dài, đăng trong báo Tinh Hoa và do ban kịch Tinh Hoa diễn lần đầu tại Nhà Hát Tây Hà Nội đêm 13–3–1937.

- Những bức thư tình, kịch ngắn, do nhà Đời Nay Hà Nội xuất bản năm 1937.

- Mơ hoa, kịch ngắn, Đời Nay Hà Nội, 1941.

- Lòng rỗng không, kịch ngắn, phỏng theo vở kịch Le professeur của Henri Duvernois.

- Cliếc nhạn trong sương là vở kịch đầy tình tứ thi vị.

- Con chim xanh, tả đời phóng lảng của một thanh niên.

- Gái không chồng, diễn tả cuộc đời ba cô ngoài 30 tuổi cố làm vui nhưng vẫn buồn tẻ vì thiếu tình; do ban kịch Tinh Hoa diễn lần đầu tại Nhà Hát Hà Nội đêm 30-4-1938.

- Sau cuộc khiêu vũ, do ban kịch Tinh Hoa diễn lần đầu tại Nhà Hát Tây Hà Nội đêm 30-3-1937.

- Xuân tươi, do ban kịch Tinh Hoa diễn lần đầu tại Nhà Hát Tây Hà Nội đêm 30-4-1938.

- Hận ly tao, một vở kịch đã đưa Đoàn Phú Tứ đến cao độ nghệ thuật.


Phê bình về Đoàn Phú Tứ, ông Vũ Ngọc Phan viết như sau:

“Người ta có thể gọi Đoàn Phú Tứ là nhà soạn kịch của thanh niên. Hầu hết các vở kịch của ông đều đượm những sự nồng nàn của tuổi trẻ mới bước chân vào đời mà phải nếm ít nhiều cay đắng, đã biết suy nghĩ về những cuộc sống yên lặng, ồn ào và phức tạp.


“Cái đặc sắc trong vở kịch của Đoàn Phú Tứ ở sự nhẹ nhàng, bay bướm. Đọc ông, ai cũng phải nhận ngòi bút của ông thật là tài hoa. Những việc cỏn con ở đời, những việc không mấy người để ý đến, ông xét nhận rất tinh tế và diễn tả thật tài tình.


“Ông có một tâm hồn thi sĩ, nên người ta thấy ông sở trường về cả thơ nữa. Thơ ông không nhiều, nhưng bài nào cũng kín đáo, gọt giũa kỹ càng, có khi kỹ càng quá, hóa ra mất cả vẻ tự nhiên, kém phần thành thật. Bài thơ trong kịch Hận ly tao của ông cũng cùng một giọng như bài Màu thời gian mà có người đã gọi là “thơ hũ". Có người lại bảo thơ ông hay cả về nhạc điệu nữa. Sự thực thì cái nhạc điệu mà người ta khen ấy, nếu có, nó cũng không Việt Nam chút nào."

*


2. PHẠM VĂN HẠNH



      Nhà thơ Thê Húc -
      Phạm Văn Hạnh

Một cây bút nòng cốt trong nhóm Xuân Thu; tác giả Giọt sương hoa (Xuân Lượm Lúa Vàng, 1945). Sau 1945, ông vào Nam cộng tác với Chân trời mới; thường ký bút hiệu Thê Húc. Người ta biết nhiều đến ông trong nhóm Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc. Phần đóng góp văn nghệ những lúc sau này là những truyện dịch các văn phẩm quốc tế. Tiếng thơ cũng ngưng bặt từ đấy.



*



3. NGUYỄN XUÂN SANH



    Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh

Cũng là một cây bút cừ trong nhóm Xuân Thu; tác giả thiên Nhật ký thơ văn xuôi Đất thơm (1940-1941). Ông đăng tiểu luận và nhiều thơ trong Xuân Thu Nhã Tập. Nhận xét về thơ Nguyễn Xuân Sanh, ông Thể Phong viết: "Là một thi sĩ theo phái bí hiểm của Dadaïsme, đôi chút pha Surréalisme cho nên thơ ông trau chuốt kỹ thuật, giàu nhạc điệu. Thơ Nguyễn Xuân Sanh phải có Đinh Gia Trinh bên cạnh giải thích cái hay, cái đẹp, mà nghệ thuật lại phải giải thích cái hay cái đẹp tới bao nhiêu lần mà người ta đọc vẫn chưa thông cảm nổi..."


*


Khác hơn phần đông thi sĩ đi vào làng thơ từng chiếc thân đơn độc với gói hành trang của mình, Xuân Thu Nhã Tập rầm rộ vào làng từng nhóm người mang theo cả chương trình khai sáng một đường lối mới trong thi văn.


Còn gay gắt hơn loại Thơ Triết của Minh Tuyền, nếu triết thi có những vần thơ dễ hiểu, hiềm nỗi tư tưởng cao viễn, khảo cứu phải thâm sâu, dòng thơ lại lê thê, dằng dặc; thì nhóm Xuân Thu Nhã Tập tạo ra những lời thơ khó hiểu, khúc chiết, tư tưởng kín đáo bí hiểm, thể thơ quá phóng túng.


Họ là những văn nghệ sĩ rất tha thiết với nền quốc văn, muốn tìm con đường sáng tác riêng biệt, đưa ra một quan niệm mới về nghệ thuật: vì vậy nhóm Xuân Thu Nhã Tập ra đời. Mà Xuân Thu nghĩa là gì? Mục đích ra sao?


Đây, ta hãy nghe họ định nghĩa:


“Trong cái "bát nháo" của người, ta tự vạch con đường. Soi sáng cái đạo thực.


“Trong cái vô ý thức của đời, ta tự thực hiện.

“Tới cái ta thuần túy: tri thức tuyệt vời, và tuyệt đối.”

... ... ...


Xuân Thu theo cổ tự: Có hoa nảy nở dưới mặt trời, và bông lúa chín... Một biểu tượng đương nhiên, cái nhịp cầu của cuộc sống vô cùng. Sắc xuân và hưởng thụ. Hai mùa quá độ uyển chuyển trong khoảng cao, trong, nhẹ...

 

“Hai mùa thực hiện Đẹp và Thơ."... ... ...

 

“Xuân Thu kết trong hệ tư tưởng gồm ba mối chính sẽ lần lần giải bằng mọi phương tiện (và khi cần, bằng Lặng Lẽ):

      Trí thức.

      Sáng tạo.

      Đạo lý.

... ... ...

“Xuân Thu có một phần tiểu thừa.

“Tìm con đường thực, nối liền nguồn gốc xưa với những ước vọng nay.

“Gọi về những tính cách riêng của ta. Không quanh co, lúng túng vì những ảnh hưởng ngoài.


Cuộc sống của ta phải phát triển trên cái nền móng thực, là ta trước hết.


Ngăn cái họa mất gốc. Hai nghìn câu thơ "Đoạn trường tân thanh” đã cứu sống ta trong Lịch Sử, cũng bằng hai mươi vạn quân Sát Đát.

Văn chương, tư tưởng lấy quốc văn làm khí cụ độc nhất, đào luyện trong cái đặc biệt của ngôn ngữ Việt Nam"...


Trên đây là những điểm đại cương được nhóm Xuân Thu đưa ra để làm tôn chỉ cho đường hướng sáng tác của mình. Đồng thời nhóm cũng trình bày những mẫu mực sáng tác mới lạ, đã tiếp được tiếng khen tặng hưởng ứng mà cũng bị phản kháng chế diễu.


Dư luận thuận lợi cho Xuân Thu Nhã Tập khi Diệu Anh Đinh Gia Trình (2) viết trong báo Thanh Nghị số 22 ngày 1-10–1942.

“Bài tiểu luận "Thơ" ký tên Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh là một trong những bài giá trị trong Xuân Thu Nhã Tập, có thể nói là một công trình tư tưởng có ý vị bậc nhất trong thời đại. Bài tiểu luận “Thơ” phát biểu những quan niệm để thực hành cái phần tiểu thừa trong chương trình của nhóm thanh niên nghệ sĩ tác giả Xuân Thu Nhã Tập; gây một nghệ thuật thơ thích hợp cho Việt Nam, tìm con đường thực nối liền nguồn gốc xưa với ước vọng nay. Gọi về những tính cách riêng của ta, để có thể xuôi chảy trong cái dòng sống thực của ta. (Quan niệm, trang 12).

Và, Diệu Anh kết luận:

“Xuân Thu Nhã Tập, viết với rất nhiều tâm thành và nhiều nghệ thuật, là một quyển sách khiến kẻ đọc suy nghĩ nhiều. Nay dò mấy trang, mai dò mấy trang, đọc đi đọc lại mỗi bài hai ba lượt, mỗi lượt đọc lại thấy thêm ý vị của một vài tư tưởng. Gấp cuốn sách lại ta thấy kính trọng nó và tự nhiên ta để nó vào một chỗ danh dự trong tủ sách hứa rồi đọc lại". (Quan niện, trang 28).


“Nhóm người đả kích cho rằng thơ của Xuân Thu Nhã Tập lập dị, hủ nút đọc nghe mù tịt, rồi người ta bắt chước họ làm những bài thơ tương tự để chế riễu, chọc cười. Có người cho họ định tái lập ở Việt Nam trường thơ bí hiểu của Pháp trong phái tượng trưng (symbolisme)(3), đa đa (dadaïsme)(4), siêu thực (surréalisme)(5).

Báo Thanh Nghị đăng lại bài thơ sáng tác của nhóm Xuân Thu, có nhận xét, phê bình với tinh thần cởi mở và xây dựng.


Nguyễn Tấn Long

Nguồn: Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến
Nxb Văn Học, 2000

Chú Thích:

(1) Theo tài liệu Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan

(2) Nguời giữ mục điểm sách mới trên báo Thanh Nghị và phê bình văn học.

(3) Một chủ nghĩa muợn ký hiệu hay vật thể khác để diễn ý nghĩa sâu xa không thể nói bằng lời, như lấy hoa hồng làm biểu tượng cho ái tình.

(4) Một văn phái xuất hiện khoảng 1916, chủ trương hủy bỏ mọi liên hệ giữa tư tưởng và sự diễn đạt.

(5) Một khuynh hướng thực tế, xác nhận con người sinh tồn biệt lập hẳn ý tưởng (đối lập với phái idéalisme (duy tâm thuyết) chủ truờng không có gì tồn tại ở ngoài lý tưởng).